Chuyên khoa phẫu thuật

Phẫu thuật ngực.

Phẫu thuật vú gồm cả các ca thẩm mỹ và các ca tái tạo có chỉ định y khoa. Hai loại này có tiêu chuẩn an toàn giống nhau: phòng mổ bệnh viện, bác sĩ gây mê chuyên khoa, theo dõi lưu viện. Cấu trúc và chức năng của vú được tôn trọng như nhau trong cả hai trường hợp.

Số cc không quyết định được kích cỡ ngực.

Một hiểu lầm hay gặp là nghĩ rằng phẫu thuật nâng ngực được "chốt theo số cc". Trên thực tế, kích cỡ túi độn chỉ là một biến trong nhiều biến: độ dày mô vú, chiều cao và chiều rộng thành ngực, độ co dãn của da, cấu trúc xương sườn, và mục tiêu của bệnh nhân.

Một bác sĩ làm việc có trách nhiệm sẽ không đưa ra con số cc cụ thể trong năm phút đầu tiên. Con số đó chỉ chốt được sau khi đo, đánh giá mô tại chỗ, và thử ướm bằng bộ thử lâm sàng.

Danh mục phẫu thuật.

Nâng ngực bằng túi độn (Augmentation)

Đặt túi độn (silicone gel hoặc nước muối) qua đường mổ ẩn để tăng thể tích và cải thiện hình dáng ngực. Kích cỡ, hình dạng túi, mặt phẳng đặt, đường mổ — đây là bốn quyết định được bàn riêng cho từng bệnh nhân. Chúng tôi không có "gói nâng ngực" cố định.

Phù hợp với

  • Ngực có thể tích nhỏ bẩm sinh
  • Mất thể tích sau sinh hoặc giảm cân
  • Bất đối xứng đáng kể giữa hai bên

Kỹ thuật

Đường mổ phổ biến: nếp dưới vú, quanh quầng vú, hoặc nách (nội soi). Mặt phẳng đặt: trên cơ, dưới cơ, hoặc kép. Lựa chọn cụ thể phụ thuộc vào độ dày mô vú, độ chùng da, và mục tiêu thẩm mỹ.

Gây mê
Gây mê toàn thân
Lưu viện
1 đêm lưu viện
Hồi phục dự kiến
Đau và hạn chế vận động vai 7–14 ngày; tránh thể thao mạnh 6 tuần; hình dáng ngực ổn định sau 3–6 tháng

Treo ngực sa (Mastopexy)

Phẫu thuật nâng vị trí núm vú và quầng vú, cắt bỏ da chùng, định hình lại nhu mô vú. Phù hợp khi mô vú đã giảm thể tích và sa xuống — thường do sau sinh, giảm cân, hoặc lão hoá.

Phù hợp với

  • Núm vú sa xuống dưới nếp dưới vú
  • Da chùng và mất săn chắc
  • Bất đối xứng giữa hai bên do sa không đều

Kỹ thuật

Đường rạch khác nhau tuỳ mức độ sa: quanh quầng vú (sa nhẹ), thẳng đứng (sa vừa), hoặc chữ T ngược (sa nặng). Có thể kết hợp với túi độn nếu cần thêm thể tích.

Gây mê
Gây mê toàn thân
Lưu viện
1 đêm lưu viện
Hồi phục dự kiến
Cần áo nịt chuyên dụng 4–6 tuần; sẹo cần 12–18 tháng để mờ; tránh nâng vật nặng 6 tuần

Thu nhỏ ngực (Reduction)

Phẫu thuật loại bỏ phần mô vú dư thừa ở những trường hợp ngực phì đại gây triệu chứng cơ học (đau lưng, đau cổ, hằn dây áo, viêm da nếp dưới vú). Đây là một trong các phẫu thuật thẩm mỹ có chỉ định chức năng rõ rệt.

Phù hợp với

  • Đau lưng, cổ, vai liên quan đến trọng lượng ngực
  • Viêm da hoặc nấm da nếp dưới vú tái phát
  • Hạn chế vận động thể thao và sinh hoạt

Kỹ thuật

Cắt bỏ mô vú, mỡ và da theo thiết kế đường rạch chữ T ngược hoặc thẳng đứng; bảo tồn cung cấp máu cho núm vú; sắp xếp lại nhu mô vú còn lại để tạo hình tự nhiên.

Gây mê
Gây mê toàn thân
Lưu viện
1–2 đêm lưu viện
Hồi phục dự kiến
Áo nịt chuyên dụng 6–8 tuần; cảm giác núm vú có thể thay đổi tạm thời; nuôi con bú sau phẫu thuật là một vấn đề cần trao đổi trước mổ

Tái tạo vú sau ung thư

Tái tạo vú sau cắt bỏ tuyến vú do điều trị ung thư. Có thể thực hiện ngay sau cắt bỏ (tức thì) hoặc sau khi hoàn tất các điều trị bổ trợ (trì hoãn). Đây là phẫu thuật phối hợp đa chuyên khoa.

Phù hợp với

  • Bệnh nhân sau cắt bỏ tuyến vú do ung thư
  • Mong muốn tái tạo bằng vật liệu cấy ghép hoặc bằng mô tự thân

Kỹ thuật

Hai hướng chính: tái tạo bằng vật liệu cấy ghép (túi độn, expander) hoặc tái tạo bằng vạt mô tự thân (DIEP, latissimus dorsi). Lựa chọn dựa trên đặc điểm bệnh nhân và mô tại chỗ.

Gây mê
Gây mê toàn thân
Lưu viện
2–5 đêm lưu viện tuỳ kỹ thuật
Hồi phục dự kiến
Phức tạp; thường cần nhiều giai đoạn cách nhau 3–6 tháng; phối hợp với bác sĩ ung bướu trong toàn bộ quá trình

Về túi độn: lựa chọn vật liệu và theo dõi dài hạn.

Túi độn ngực hiện đại sử dụng silicone gel hoặc nước muối, với vỏ ngoài có bề mặt nhẵn hoặc nhám tuỳ thiết kế. Mỗi loại có ưu nhược điểm về cảm giác, tỷ lệ co bao xơ và đặc điểm theo dõi lâu dài. Chúng tôi trao đổi cụ thể về các tuỳ chọn được phê duyệt bởi Bộ Y tế và phù hợp với từng trường hợp.

Một điểm quan trọng: túi độn không phải là vật liệu vĩnh viễn. Theo các hướng dẫn quốc tế, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ và túi độn có thể cần thay thế sau 10–15 năm hoặc khi có chỉ định lâm sàng. Đây là một thông tin được trao đổi trước phẫu thuật, không phải sau.

Rủi ro cần biết trước.

  • Co bao xơ (Capsular contracture). Phản ứng của mô xung quanh túi độn dẫn đến cứng và biến dạng. Tỷ lệ thay đổi theo nghiên cứu; có thể cần phẫu thuật điều chỉnh.
  • Thay đổi cảm giác núm vú. Có thể tạm thời hoặc kéo dài; trao đổi cụ thể tuỳ kỹ thuật tiếp cận.
  • Ảnh hưởng đến nuôi con bú. Phụ thuộc vào kỹ thuật và đường mổ. Cần trao đổi trước nếu bạn còn dự định sinh con.
  • Chẩn đoán hình ảnh sau phẫu thuật. Túi độn có thể ảnh hưởng đến đọc kết quả chụp nhũ ảnh; cần thông báo cho bác sĩ chẩn đoán hình ảnh về tiền sử phẫu thuật.
  • Cần theo dõi dài hạn. Chụp nhũ ảnh hoặc siêu âm định kỳ theo khuyến cáo.

Buổi tư vấn diễn ra như thế nào.

  1. Trao đổi tiền sử y tế và mục tiêu. Bao gồm tiền sử ung thư trong gia đình, kế hoạch sinh nở, các hoạt động thể thao thường xuyên.
  2. Đo lường và đánh giá mô vú. Đo các kích thước thành ngực, đánh giá độ dày da và mô tuyến vú, đánh giá tính đối xứng.
  3. Thử ướm. Sử dụng các bộ thử kích thước để giúp bạn hình dung kết quả tiềm năng.
  4. Trình bày phương án và rủi ro. Bao gồm kỹ thuật, vật liệu, lưu viện dự kiến và yêu cầu theo dõi.